CẬP NHẬT: 22/02/2008 09:31:05 (GMT+7)
http://vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=10&id=
Hỏi chuyện TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Thưa ông, hơn một năm Việt Nam là thành viên chính thức của WTO đã đem đến nhiều cơ hội, thời cơ kinh doanh cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cũng trong quá trình phát triển và hội nhập mạnh mẽ này, có lẽ chưa bao giờ nền kinh tế Việt Nam lại phải trực tiếp đối mặt với những khó khăn và hạn chế của mình rõ như hiện nay?
Đúng như dự đoán trước đó, gia nhập WTO đã mang lại nhiều cơ hội đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh. Nhìn tổng thể, đáng khích lệ là xu hướng tích cực, thuận lợi là chủ đạo. GDP năm 2007 đạt mức 8,44%, cao nhất trong 10 năm qua, cao thứ 3 của châu Á, cao nhất trong các nước ASEAN.
Theo đánh giá của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC), Việt Nam là thị trường đầu tư tiềm năng thứ 3 thế giới chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ, đứng đầu ASEAN. Và theo Báo cáo của Uỷ ban Thương mại và Phát triển của Liên hiệp quốc công bố tháng 10/2007 thì Việt Nam đứng thứ 6 trong các nền kinh tế hấp dẫn nhất về đầu tư toàn cầu. Điều tra 6.700 doanh nghiệp dân doanh của VCCI năm 2007 cũng cho thấy tâm lý lạc quan này.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang đối mặt với nhiều cản trở, và cần phải thận trọng, cân nhắc về tính bền vững trong đường hướng phát triển nền kinh tế.
Đó là những hạn chế trong điều hành kinh tế vĩ mô (tình trạng lạm phát, nhập siêu...); sự thiếu hụt về nguồn nhân lực có chất lượng; sự quá tải đối với cơ sở hạ tầng: cảng biển, sân bay, đường giao thông... Ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, nguy cơ đình công lan rộng... Đối với từng doanh nghiệp, thì các yếu tố như quy mô nhỏ, thông tin và kiến thức hạn chế, trình độ công nghệ, trình độ quản lý, nhân lực còn nhiều yếu kém...
Nếu không vượt qua được những cản trở này, Việt Nam có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội để thoát khỏi ngưỡng kém phát triển và vượt qua những tác động tiêu cực của quá trình hội nhập. Khoảng cách lớn giữa vốn cam kết đầu tư và vốn đầu tư thực hiện thời gian qua là một minh chứng cho hệ quả của những cản trở này.
Thưa ông, được biết nhiều nhà đầu tư đã gọi những cản trở này là các “nút thắt cổ chai” đối với nền kinh tế Việt
Tôi muốn nhấn mạnh đến 3 cản trở chính.
Thứ nhất là cản trở từ nguồn nhân lực. Có một thực tế rõ ràng là hiện nay nhiều dự án đầu tư trong nước hay nước ngoài, đều đang gặp khó khăn vì sự thiếu hụt lao động có kỹ năng. Theo đánh giá (của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), tới 70% lao động Việt Nam hiện chưa qua đào tạo, 80% thanh niên Việt Nam trong độ tuổi 20 - 24 khi tham gia thị trường lao động chưa được đào tạo nghề. Ngoài ra, các khó khăn khác như ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp của người lao động còn kém...
Thứ hai là cản trở từ cơ sở hạ tầng. Các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước đều đánh giá cơ sở hạ tầng của Việt
Và cuối cùng là cản trở từ thủ tục hành chính và chất lượng điều hành của bộ máy chính quyền các cấp. Những cản trở này tồn tại từ nhiều năm, không phải do tác động từ việc gia nhập WTO. Điều này cho thấy thách thức để vượt qua những cản trở này trong thời gian tới sẽ là rất lớn và khó khăn.
Thưa ông, như ông đã nói, ngoài những yếu tố cản trở sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, còn có những yếu tố khác khiến cho những tăng trưởng đã đạt được trở nên không bền vững. Ông có thể nói rõ hơn về những yếu tố này?
Những kết quả đạt được năm vừa qua dù khả quan nhưng vẫn tiềm ẩn những bất ổn. Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao, chưa đều và chưa bền vững. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khá cao (20,5%) nhưng tốc độ giá trị tăng thêm thấp, khoảng 10,2%.
Tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng còn chậm, tác động dây chuyền đến cả nền kinh tế. Giá cả tăng cao, ô nhiễm môi trường và tình trạng ùn tắc giao thông tại một số thành phố lớn ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Ngay như xuất khẩu luôn đạt được những thành công ấn tượng, nhưng tăng trưởng cũng chưa vững chắc. Các mặt hàng xuất khẩu có giá trị gia tăng còn thấp, chủ yếu vẫn phụ thuộc vào các mặt hàng như khoáng sản, nông, lâm, thủy, hải sản, trong khi các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày, điện tử và linh kiện máy tính... chủ yếu vẫn còn mang tính chất gia công.
Cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu chuyển dịch theo chiều rộng mà chưa đi vào chiều sâu, xuất khẩu chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh sẵn có mà chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng các ngành công nghiệp có mối liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chuỗi giá trị gia tăng xuất khẩu lớn.
Nhập siêu ở mức cao và chưa có giải pháp kiềm chế hiệu quả, triệt để, đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ, nguồn lực đầu tư...
'Không thể xem thường nguy cơ bất ổn'
20 Tháng 2 2008 - Cập nhật 12h21 GMT
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/02/080220_inv_ledangdoanh.shtml
Giá cả tăng cao là vấn đề nóng bỏng hiện thời ở trong nước. Tỷ lệ lạm phát năm ngoái đã lên hai chữ số và chưa có xu hướng giảm đi.
Đài BBC đã có cuộc trò chuyện quanh chủ đề này với nhà kinh tế hàng đầu, tiến sỹ Lê Đăng Doanh, tại Hà Nội.
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh (TS LĐD): Tỷ lệ lạm phát ở VN năm 2007 là 12.6%, thuộc loại cao nhất khu vực, chỉ sau Myanmar với trên 40%.
Trong tháng Giêng và tháng Hai chúng ta thấy chỉ số giá cả tiếp tục tăng và tôi nghĩ đây phải là một trong các mối lo ngại hàng đầu và ưu tiên hàng đầu cùa chính phủ VN để ổn định kinh tế vĩ mô cũng như ổn định đời sống cho người lao động, nhất là những người nghèo.
BBC: Thưa ông, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng lạm phát hiện nay, khiến thu nhập thực tế của những người làm công ăn lương giảm rõ rệt?
TS LĐD: Điều này, theo tôi có ba nguồn gốc.
Thứ nhất là giá vàng và giá dầu thô tăng, không chỉ dẫn tới giá xăng dầu tăng mà tất cả các sản phẩm từ dầu thô như phân bón, thuốc trừ sâu, chất dẻo, nguyên liệu đồ nhựa, sợi tổng hợp vv... đều tăng. Rồi cước phí vận tải cũng tăng, tác động đến mặt bằng giá cả.
Thứ hai, các diễn biến về cung cầu trên thị trường phức tạp. Thí dụ VN hiện nay đang qua một đợt rét lịch sử, khiến cho gia súc bị chết, rau quà̉ cũng bị mất mùa và đương nhiên giá cả tăng lên. Sự mất cân đối cung cầu này cần được xử lý kịp thời, như tìm nguồn cung cấp thay thế hoặc nhập khẩu.
Điểm thứ ba có liên quan tới chính sách tiền tệ. Trong năm 2007, VN đã xuất ra một lượng tiền mặt rất lớn để mua vào 9 tỷ đôla. Theo kinh tế học thì sau khi xuất ra lượng tiền lớn như vậy phải có biện pháp trung hòa, như bán trái phiếu và nâng lãi suất ngân hàng để vô hiệu hóa số tiền vừa phát hành đó. Nhưng các biện pháp này chúng ta làm quá chậm, dẫn tới chỉ số giá cả tăng cao.
Ngoài ra còn một số yếu tố khác như lượng tín dụng cấp cho các doanh nghiệp để xây dựng cơ bản, qua một số vòng quay nhất định cũng sẽ ra thị trường và tác động tới tổng lượng tiền.
Một yếu tố nữa là giá bất động sản ở VN cao một cách phi lý và đang có phương hại tới môi trường đầu tư.
BBC: Giá cả tăng như vậy khiến người nghèo càng nghèo hơn. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội VN, theo ông đánh giá, đang ở mức độ thế nào?
TS LĐD: VN đã tăng được mức thu nhập bình quân đầu người, song đồng thời chỉ số chênh lệch giữa chi tiêu củ̀a người giàu và người nghèo cũng tăng lên một cách nhanh chóng.
Mức thu nhập của chúng ta hiện ở mức 835 đôla/người nhưng chênh lệch chi tiêu giàu nghèo của ta đã ngang bằng với Trung Quốc trong khi mức thu nhập của TQ là khoảng 2.000 đôla/người. Đó là điều cần chú ý.
Tuy nhiên tôi nghĩ ngay cả chỉ số đó cũng chưa phản ánh đúng chênh lệch giàu nghèo ở VN vì chúng ta không kiểm soát được nguồn thu và mức độ chi tiêu bằng tiền mặt trong xã hội còn quá lớn.
Theo tôi, tình trạng này không thể xem thường và phải có các biện pháp tích cực để trợ giúp cho người nghèo.
BBC: Khoảng cách giàu nghèo như vậy có thể gọi là bất công hay không, thưa ông?
TS LĐD: Theo tôi, đó là thể hiện một phần của sự bất công. Nhưng bất công lớn nhất trong xã hội là bất công về cơ hội được tiếp cận với giáo dục và cơ hội được nói lên tiếng nói của mình.
Nghèo không chủ yếu là nghèo tiền, mà đáng sợ là nghèo về trí tuệ, về tri thức. Người nghèo không tiếp cận được báo chí, giáo dục, khi cất tiếng nói không được lắng nghe. Theo tôi nhà nước cần chú ý để bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội có tiếng nói như nhau.
BBC: Thưa ông bên TQ người ta đã cảnh báo nguy cơ mất ổn định xã hội chính vì khoảng cách giàu nghèo và tình trạng bất công. Tại VN, với mô hình kinh tế nhiều nét tương đồng, liệu có nguy cơ này hay không?
TS LĐD: Nguy cơ bất ổn định xã hội hoàn toàn không thể xem thường. Bởi vì đối với những người nông dân mất đất để xây dựng và công nghiệp hóa, họ được đền bù một khoản nhất định nhưng sau đó không được tạo điều kiện để có thu nhập ổn định, công ăn việc làm.
Đó là nguy cơ lớn và trong thời gian qua đã có một số biểu hiện của nguy cơ mất ổn định.
Sắp tới đây, trong năm 2008 này, chúng ta đã thấy xuất hiện ảnh hưởng của kinh tế Hoa Kỳ tới các nền kinh tế thế giới và có thể đoán được rằng cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt. Hàng TQ, nếu không bán được sang Hoa Kỳ thì sẽ tìm cách để tràn ngập thị trường VN.
Điều đó có nghĩa, có những doanh nghiệp hôm nay còn có việc làm nhưng ba tháng nữa thì chưa dám chắc. Chúng ta phải chú ý có những biện pháp về an sinh xã hội để bảo đảm mức sống tối thiểu cho những người tạm thời không có việc làm đó.
Ý KIẾN ĐỘC GIẢ
Một lần nữa, cám on Thu Nga.
Trả lờiXóa