Thưở Hà nội những năm 60 của thế kỷ trước, khi còn tàu điện, trong chúng ta chắc không có ai không từng đi tầu điện. Hồi đó mỗi lần đi tàu điện lên nhà bà ngoại tôi ở Cầu giấy, tôi thường gặp những người kiếm sống bằng hát xẩm trên tàu. Trước kia ở Hà nội, tàu điện vốn là một phương tiện giao thông phổ biến . Cùng với tiếng tàu điện leng keng, những câu hát xẩm cũng trở nên gắn bó, thân thuộc với người dân Hà thành. Gắn với tàu điện, đã có hẳn một điệu hát xẩm được ra đời mà các bến đỗ của nó cũng là môi trường biểu diễn chính của điệu hát này. Cùng một điệu hát nhưng có rất nhiều bài (lời thơ) khác nhau như: “Nuôi chồng đi thi”, "Anh Khóa", “Mục hạ vô nhân” … mà các nghệ sĩ ngày nay thường gọi là “Xẩm Tàu điện”. Hát xẩm vốn vẫn bị coi là thứ nghệ thuật “mạt hạng” chủ yếu thuộc về những người khiếm thị lang thang kiếm ăn. Nghe họ hát mà trong lòng thực sự thấy ái ngại và não lòng.
"Thế nhưng ít ai ngờ rằng, ông tổ nghề xẩm lại xuất thân là một Hoàng tử. Theo truyền khẩu, ông tổ nghề hát xẩm là Trần Quốc Đĩnh (con trai vua Trần Thánh Tông). Tương truyền, vua Trần Thánh Tông có hai người con trai là Trần Quốc Đĩnh và Trần Quốc Toán. Nhà vua truyền cho hai người con trai này phải vào rừng tìm ngọc quý, ai tìm thấy sẽ truyền ngôi báu.
Người anh Trần Quốc Đĩnh vốn là người chăm chỉ nên luôn lo lắng, chú tâm đi tìm ngọc. Còn người em thì mải chơi săn bắt mà không để ý gì đến việc vua cha sai bảo. Cuối cùng Trần Quốc Đĩnh tìm được ngọc quý trước. Người em rắp tâm chiếm đoạt nên đã chọc mù mắt anh cướp ngọc về dâng vua cha chiếm đoạt ngôi báu.
Người anh Trần Quốc Đĩnh với đôi mắt mù loà lang thang trong rừng sâu. Ông mò mẫm và tìm được những sợi dây rừng. Bụt hiện lên và truyền cách kết các sợi dây lại làm đàn. Không ngờ, âm thanh từ sợi dây ấy khiến chim muông trong rừng quây quần lại quanh ông. Hàng ngày, chúng mang thức ăn đến cho người mù bạc phận sinh sống qua ngày. Rồi những người tiều phu nghe được những âm thanh vừa ai oán, vừa sâu lắng của người mù nọ liền đưa ông về làng sinh sống.
Trần Quốc Đĩnh dùng tiếng đàn và lời ca của mình truyền dạy cho những người mù lòa biết đàn hát. Câu chuyện tiếng đàn đặc biệt và những lời ca của một người mù cuối cùng cũng đến tai nhà vua. Ngài mời người mù nọ đến và nhận ra đó chính là con trai của mình nhưng vị hoàng tử này vẫn một mực xin được ở lại chốn dân gian để truyền dạy tiếp nghệ thuật đàn, hát cho những người khiếm thị kém may mắn kiếm kế sinh nhai.Ghi nhớ công ơn của vị hoàng tử Trần Quốc Đĩnh, những người hành nghề hát xẩm chọn ra một ngày để tưởng nhớ đến ông. Tuy nhiên, do xẩm vốn bị coi rẻ và cho là nghệ thuật của tầng lớp đáy cùng xã hội nên việc thờ tự vị Tổ nghề cũng không được long trọng và cố định. Giỗ tổ nghề xưa kia cũng chỉ được tổ chức tại các bãi đất hoang chứ không được phép tiến hành tại những nơi trang trọng.
Tất nhiên, không ai khẳng định chi tiết của câu chuyện trên là sự thật. Các cứ liệu lịch sử cũng không hề đề cập đến nhân vật “hoàng tử” Trần Quốc Đĩnh và nhân vật này có phải là ông tổ nghề xẩm hay không. Hoàn toàn có khả năng, những người hát xẩm đã tự dựng nên câu chuyện này để thể hiện nghệ thuật hát xẩm vốn được xuất phát từ một nhân vật quyền quý trong triều đình. Điều này sẽ góp phần an ủi cho thân phận hẩm hiu của những người buộc mình phải đi theo nghiệp hát xẩm - một nghệ thuật mà không ai muốn gắn bó suốt đời.
Lâu nay, nhiều người vẫn chưa hiểu đúng về nghề hát xẩm. Từ khi manh nha, nó đúng là một nghề để sinh nhai, nhưng trải qua thời gian, hát xẩm dần hình thành các dòng và các làn điệu khác nhau: "Ba bậc" (thính phòng, dành cho các cuộc vui trong gia đình); "phồn huê", "chênh bong", "xẩm xoan" (dành cho các cuộc hội hè, đình đám); thập ân (hay hát ở các đám giỗ, hiếu... để tỏ lòng hiếu đễ đối với ông bà, tổ tiên); ngoài ra còn có "xẩm chợ", "xẩm tàu điện"...Tuy nhiên, đến nay, nghệ nhân hát xẩm chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, đặc biệt những người coi hát xẩm như một nghề kiếm sống giờ chỉ còn duy nhất nghệ nhân Hà Thị Cầu (vợ út của ông Chánh Trương Mậu - trùm xẩm đất Ninh Bình khi xưa)Nghệ thuật đường phố này đã không còn phải mang những nỗi tủi hờn, bi lụy mà đã được xem như một trong những nghệ thuật văn hoá dân gian cổ truyền đặc sắc cần lưu giữ của Việt Nam. Hiện nay chiếu xẩm vẫn diễn ra vào thứ bảy hàng tuần ở chợ Đồng Xuân cũng là một trong những nỗ lực duy trì lưu giữ nghệ thuật hát xẩm."
Ai đã từng đi chợ đêm Hàng Đào - Đồng Xuân vào mỗi tối thứ 7 mới thấy người Hà Nội mê hát xẩm. Không cầu kỳ, ngay trên hè phố… nhưng những đêm diễn vẫn chật cứng người xem. Xẩm đã có hẳn một số lượng khán giả đủ các lứa tuổi, luôn có mặt trong các đêm diễn suốt mấy năm qua. Nhiều người mê xẩm, nhiều khán giả vẫn mặn mà với xẩm.
Ảnh bìa phải: Nghệ nhân Hà thị Cầu
Điệu Xoan:
Tham khảo: Mai Tuyết Hoa - nghệ sĩ trẻ hát xẩm
Dưới đây là một số bài xẩm tôi đã sưu tầm được và gửi lên trang âm nhạc xã hội "chacha.vn":
Từ ngày Hà Nội không còn tiếng leng keng của tàu điện thì chúng ta cũng chẳng còn được nghe xẩm tàu điện nữa; đâm ra cũng nhơ nhớ!!!
Trả lờiXóa