Thứ Năm, 6 tháng 12, 2007

“nâng đáy” hơn là “thu hẹp”

Chuyên viên tư vấn quản trị
Khi nền kinh tế phát triển, ngày càng có nhiều người giàu lên. Đó là tín hiệu đáng mừng. Thế nhưng, có ý kiến cho rằng khoảng cách giàu nghèo đang ngày càng gia tăng là mặt trái của sự phát triển, là điều đáng lo ngại, cần phải khắc phục. Ngay cả trong cách đặt vấn đề của nhiều nhà quản lý kinh tế vĩ mô, thể hiện qua nhiều bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của báo chí, cũng luôn bày tỏ quan điểm “lên án” sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo và tìm cách hoạch định các chính sách, đề ra các giải pháp nhằm “thu hẹp” khoảng cách này.
Nên chăng, cần nhìn nhận vấn đề theo một cách khác? Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo không chỉ là hệ quả tất yếu của bất kỳ một nền kinh tế phát triển nào, mà bản thân nó cũng chính là một trong những động lực phát triển của nền kinh tế. Có thể minh chứng điều này bằng một ví dụ sau. Hãy hình dung cảnh kẹt xe trong thành phố - mọi phương tiện, từ xe đẩy tay, xe đạp, xích lô, xe gắn máy, xe ô tô, dù đời cũ hay đời mới, đều chỉ có thể nhích từng chút một. Không có khoảng cách đáng kể giữa các phương tiện, dù cũ hay mới, hiện đại hay thô sơ. Dù vậy, mọi người chắc chắn là không ai hài lòng với khoảng cách quá gần này, kể cả những những người vốn không có khả năng đi nhanh (như xe đẩy, xích lô). Không ai sung sướng vì phương tiện thô sơ, cũ kỹ của mình cũng đi với tốc độ “bình đẳng” với các phương tiện hiện đại, đời mới. Đến một lúc nào đó, chỗ tắc nghẽn được giải tỏa, dòng xe cộ bắt đầu tăng tốc với sự hứng khởi của tất cả mọi người được thoát ra. Khoảng cách giữa các phương tiện bắt đầu tăng lên. Xe đời mới vọt nhanh hơn; còn xe cũ kỹ, thô sơ thì tụt lại khá xa. Tuy nhiên, không ai phàn nàn vì người khác đang bỏ xa mình, mà trái lại, tất cả đều vui mừng vì mọi người đều đi nhanh hơn nhiều so với lúc ở trong tình trạng kẹt xe. Không ai nghĩ rằng cần phải chặn đầu hoặc yêu cầu các phương tiện hiện đại giảm tốc độ lại để “thu hẹp khoảng cách” với các phương tiện thô sơ. Ngược lại, những người có phương tiện thô sơ đều ao ước giá mà mình có phương tiện hiện đại để cùng “vọt lên” nhanh chóng.
Nền kinh tế chúng ta cũng vậy. Cách đây không lâu, thời bao cấp, nền kinh tế trì trệ làm cho mọi người gần như cùng nghèo như nhau. Khoảng cách giữa người giàu và người nghèo nhiều khi chỉ là một chiếc xe đạp cũ kỹ hoặc một cái sân gạch đầy rêu phong. Ai cũng khổ và ai cũng mong muốn thoát ra khỏi cảnh nghèo khó. Chính sách đổi mới, mở cửa như làn gió mát thổi vào nền kinh tế nước nhà. Thoát ra khỏi ngõ hẹp, mọi người bắt đầu tăng tốc. Kinh tế phát triển, nhiều người bắt đầu ăn nên, làm ra. Nhiều người giàu lên, bắt đầu mua sắm xe máy, rồi đến ô tô đắt tiền, xây nhà với trang thiết bị cao cấp. Người nghèo bây giờ cũng không còn nghèo đến mức phải chịu đói khát hoặc ăn độn ngô, khoai như trước. Tuy vậy, không ai vì nghèo mà muốn người khác cũng nghèo như mình. Không ai vì chưa kịp làm giàu mà muốn người khác cũng đừng giàu nhanh quá. Trái lại, khi càng có nhiều người giàu lên thì càng có nhiều người ăn xài, mua sắm, hưởng thụ. Từ đó mới tạo công ăn, việc làm cho những người khác. Từ người bán hàng rong đến các khách sạn, nhà hàng, cửa hiệu quần áo, dịch vụ hớt tóc, gội đầu đều được hưởng lợi từ cách ăn tiêu của những người giàu. Có nhiều người mua xe ô tô, thì cũng có nhiều người khác có cơ hội làm nghề lái xe, rửa xe, mua bán phụ tùng. Có nhiều người tậu biệt thự thì cũng có nhiều người có cơ hội tìm được việc làm như giúp việc nhà, làm gia sư, giữ trẻ, chăm sóc cây cảnh...
Có nhất thiết phải kêu gọi “thu hẹp” khoảng cách giữa người giàu và người nghèo hay không, khi chính khoảng cách này tạo nên động lực để người nghèo phấn đấu vươn lên, hay ít nhất cũng tạo công ăn, việc làm cho họ, giúp họ bớt nghèo hơn trước? Có nhất thiết phải làm cho người giàu bớt giàu, cũng như có nhất thiết phải bắt các phương tiện hiện đại phải chạy chậm lại cho đừng tạo khoảng cách quá xa với xích lô, xe đạp?
Theo tôi, vấn đề không phải là “thu hẹp” khoảng cách mà là phải “nâng mức đáy” lên, làm cho mức sống của người nghèo ngày càng cao lên, cũng như phải thay dần các phương tiện thô sơ bằng phương tiện hiện đại chứ không phải bớt đi các phương tiện hiện đại. Thay vì tập trung vào việc san bằng khoảng cách, nên chăng, chúng ta chỉ tập trung vào việc “nâng mức đáy” lên. Nếu thực hiện được điều này thì khoảng cách giàu nghèo dù có tăng lên bao nhiêu lần thì vẫn không có gì đáng ngại. Tỉ phú Bill Gates của Mỹ chắc chắn là có khoảng cách với người nghèo ở Mỹ xa gấp nhiều lần so với khoảng cách giữa người giàu nhất và nghèo nhất nước ta. Thế nhưng, không vì thế mà nền kinh tế Mỹ thua kém nền kinh tế nước ta.
Nên chăng, đừng nhìn khoảng cách giàu nghèo như là thảm họa? Và hãy tập trung vào việc “nâng đáy” hơn là “thu hẹp”.



ST

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2007

MONG ƯỚC KỶ NIỆM XƯA

Nhân ngày nhà giáo Việt Nam {20 tháng 11}, xin gửi tới các thầy cô và các anh chị, các bạn lời bài hát MONG ƯỚC KỶ NIỆM XƯA (để thay lời muốn nói).

Mong Ước Kỷ Niệm Xưa
Sáng tác: Xuân Phương

Thời gian trôi qua mau chỉ còn lại những kỷ niệm
Kỷ niệm thân yêu ơi sẽ còn nhớ mãi tiếng thầy cô
Bạn bè mến thương ơi sẽ còn nhớ những lúc giận hờn
Để rồi mai chia xa lòng chợt dâng niềm thiết tha
nhớ bạn bè, nhớ mái trường xưa

Đặt bàn tay lên môi, giữ chặt tiếng nấc nghẹn ngào
Thời gian sao đi mau xin hãy ngừng trôi
Dù vẫn mãi luyến tiếc khi đã xa rồi
Bạn bè ơi, vang đâu đây, còn giọng nói tiếng cười
Những nỗi nhớ niềm thương gửi cho ai .....!

Nếu có ước muốn trong cuộc đời này
Hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại
Cho bao khát vọng, đam mê cháy bỏng
Sẽ còn mãi trong tim mọi người
Để tình yêu... ước mơ mãi không phai...

Nếu có ước muốn trong cuộc đời này
Hãy nhớ ước muốn cho thời gian trở lại
Bên nhau tháng ngày, cho nhau những hoài niệm
Để nụ cười còn mãi lắng trên hàng mi, trên bờ môi
Và trong những... kỷ niệm xưa .....!

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2007

Văn hóa đối phó và văn minh chậm

Cả rùa lẫn thỏ đều... luẩn quẩn!

Tắc đường (hay còn gọi là kẹt xe) đã và đang là một trong những vấn đề lớn của đô thị hiện đại làm đau đầu các cơ quan chức năng. Các cấp chính quyền đã đưa ra rất nhiều giải pháp, nhưng với sự gia tăng quá nhanh về mặt số lượng của các phương tiện giao thông cá nhân và sự phát triển quá chậm của cơ sở hạ tầng như hiện nay thì những giải pháp ấy chưa thể giải quyết triệt để vấn đề này.

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự lộn xộn, nhốn nháo, mạnh ai người nấy lấn của tất cả các loại phương tiện đang lưu thông. Một thứ văn hóa chen lấn, đối phó hình thành và ăn sâu vào tiềm thức biểu hiện ngay cả khi tham gia giao thông. Người ta sẵn sàng lấn sang phần đường của xe đi ngược chiều; trèo lên vỉa hè dành cho người đi bộ, thậm chí là vượt đèn đỏ khi cảnh sát giao thông lơ là. Và đương nhiên, khi tất cả đều muốn đạt được mục đích của mình bất chấp cả luật lệ, bất chấp cả lợi ích của cộng đồng thì tắc đường xảy ra là điều tất yếu.

Chúng ta đã nói quá nhiều về văn hóa giao thông, văn hóa đi đường nhưng thực ra, quá ít người trong chúng ta hình thành được thói quen và văn hóa đó. Sự gia tăng về số lượng các loại phương tiện giao thông là minh chứng cho một xã hội phát triển. Chúng ta chuyển từ xe đạp lên xe máy, rồi lên ô tô- nhưng một bộ phận không nhỏ của cộng đồng không chịu “lên đời văn hóa”. Chúng ta vẫn mang thứ văn hóa của xe đạp vào nền văn hóa của những người đi xe máy. Và tắc đường chỉ là một trong những hậu quả của việc văn hóa tham gia giao thông không cân xứng với một nền giao thông đang thay đổi với tốc độ chóng mặt.

Một nền văn hóa khi phát triển đến đỉnh điểm của nó với tất cả những thành tựu rực rỡ nhất của nó và tiến bộ hơn so với cái đã có thì nó được gọi là văn minh. Nghĩa là khi xã hội ngày càng phát triển thì con người ta sẽ càng tiến gần đến văn minh hơn. Thế nhưng trong trường hợp này, văn hóa đối phó xâm thực vào ý thức cộng đồng vô tình đã tạo ra một tác động ngược: Nó hình thành nên một thứ văn minh chậm, đi ngược lại với sự phát triển.

Lợi ích của cá nhân bao giờ cũng gắn chung với lợi ích của cộng đồng. Do vậy, lợi ích bao giờ cũng phải được gắn chặt với tính hệ thống và tính bền vững. Văn hóa đối phó trong nhiều lĩnh vực của xã hội đã đi ngược lại nguyên tắc này và hậu quả của nó chúng ta đang thấy rất rõ. Chúng ta đang phải trả giá cho những hành động chỉ biết đến lợi ích cá nhân mà không màng đến lợi ích của cộng đồng và sự bền vững.

Tất cả những vấn đề của xã hội hiện đại là minh chứng rõ ràng nhất của sự phát triển. Xã hội càng phát triển nhanh thì sẽ càng nảy sinh những vấn đề đi cùng với sự phát triển đó. Quy luật này không thể loại bỏ. Chỉ có điều con người ứng xử với nó như thế nào. Chúng ta có thể cấm đăng kí xe máy, có thể đưa ra phương án đi làm lệch giờ… Thế nhưng nếu chúng ta không chịu thay đổi tư duy, không học cách “lên đời văn hóa” và loại bỏ đi thứ văn hóa đối phó thì chúng ta sẽ tự làm tắc, tự cản trở con đường đến với văn minh và phát triển.

Nghe Phật dạy về tình yêu

Này người trẻ, bạn có biết Phật dạy như thế nào về tình yêu? Tôi đã may mắn tham dự một buổi pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh về tình yêu: mối quan hệ giữa yêu thương và hiểu biết, tình yêu từ bi hỉ xả, tình yêu và tình dục. Ông gọi đó là “yêu thương theo phương pháp Phật dạy”.

Trước khi bắt đầu bài thuyết pháp của mình tại Tổ Đình Trung Hậu - Vĩnh Phúc, Thiền sư Nhất Hạnh đã mời các bạn trẻ ngồi lên trên, để có thể nghe thật rõ. Ông muốn nói về tình yêu, bản chất tình yêu nhìn từ góc độ Phật giáo.

Miệng mỉm cười, ông đã kể một câu chuyện tình yêu, giản dị thôi nhưng hàm ý sâu sắc: Có một chàng trai ở vùng California - Mỹ, rất đẹp trai, học giỏi, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có nhiều bạn gái xinh đẹp. Chàng trai sống với mẹ, người mẹ biết trong các cô gái ngưỡng mộ con mình, có một cô gái không xinh nhất, cô không trắng, không cao lắm nhưng được chàng trai đặc biệt chú ý. Ngạc nhiên, người mẹ hỏi con trai: Vì sao con lại thích cô gái ấy, cô ta đâu có gì nổi bật?Cô ấy hiểu con - chàng trai trả lời đơn giản.

Chàng trai học ngành công nghệ thông tin nhưng rất hay làm thơ. Mỗi lần chàng đọc thơ, cô gái nọ lắng nghe rất chăm chú và có những nhận xét sâu sắc, trong khi những cô gái xinh đẹp kia không để ý gì đến. Chàng trai đã chọn người yêu không vì vẻ đẹp bề ngoài, mà bởi sự lắng nghe và thấu hiểu.

“Đạo Phật cũng dạy như vậy, có hiểu mới có thương, tình yêu phải làm bằng sự hiểu biết”, Thiền sư kết luận.

Muốn thương phải hiểu

Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu sâu sắc. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của tình thương yêu.

Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, tình thương của mình sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người mình thương đau khổ suốt đời.

Nhân danh tình thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thưòng xảy ra.

Được hiểu và được thương vốn là một nhu cầu muôn đời của con người. Nhiều người thường cảm thấy không ai hiểu mình. Họ “đói” thương, “đói” hiểu. Họ thơ thẩn, lang thang trong cuộc đời tìm người hiểu mình, thương mình. Gặp được người hiểu mình, thương mình là may mắn lớn của cuộc đời. Tình yêu nảy nở, lớn lên từ đó.

Vậy nên, “có hiểu mới có thương” là nguyên tắc chọn người yêu, chọn chồng/vợ theo quan điểm Phật giáo. Dù người ta có đẹp, có giàu đến đâu nhưng không hiểu mình sẽ làm mình khổ suốt đời. Hôn nhân có thể mở ra những con đường hoa hồng, có thể mở ra cánh cửa tù ngục. Chọn vợ, chọn chồng là một sự mạo hiểm lớn. Hãy cẩn thận, nếu không muốn chọn án tù chung thân cho cuộc đời mình.

Chọn người hiểu và thương mình - hãy nhớ - đó là nguyên tắc tìm người tri kỷ trong cuộc đời.

Bốn yếu tố của tình yêu: Từ bi hỉ xả

Phật dạy về tình yêu rất sâu sắc. Tình yêu phải hội tụ đủ bốn yếu tố: từ, bi, hỉ, xả.

“Từ” là khả năng hiến tặng hạnh phúc cho người mình yêu. Yêu thương không phải là vấn đề hưởng thụ, yêu thương là hiến tặng. Tình thương mà không đem đến hạnh phúc cho người yêu không phải là tình thương đích thực. Yêu mà làm khổ nhau không phải tình yêu. Có những người yêu nhau, ngày nào cũng khổ, đó là tình yêu hệ luỵ, chỉ mang tới sự khổ đau. Yêu thương ai đó thực sự, nghĩa là làm cho người ta hạnh phúc, mỗi ngày.

“Bi” là khả năng người ta lấy cái khổ ra khỏi mình. Mình đã khổ, người ta làm cho thêm khổ, đó không thể là tình yêu đích thực. Còn gì cho nhau nếu chỉ có khổ đau tuyệt vọng. Người yêu mình phải là người biết sẻ chia, biết xoa dịu, làm vơi bớt nỗi khổ của mình trong cuộc đời.

Như vậy, “từ bi” theo Phật dạy là khả năng đem lại hạnh phúc cho nhau. Yêu thương ai là phải làm cho người ta bớt khổ. Nếu không, chỉ là đam mê, say đắm nhất thời, không phải là tình yêu thương đích thực. “Từ bi” trong tình yêu không phải tự dưng mà có. Phải học, phải “tu tập”. Cần nhiều thời gian, để quan sát, để lắng nghe, để thấu hiểu những nỗi khổ niềm đau của người yêu, để giúp người ta vượt qua, tháo gỡ, bớt khổ đau, thêm hạnh phúc.

“Hỉ” là niềm vui, tình yêu chân thật phải làm cho cả hai đều vui. Dấu ấn của tình yêu đích thực là niềm vui. Càng yêu, càng vui, niềm vui lớn, cả gia đình cùng hạnh phúc. Cuộc nhân duyên như thế là thành công.

“Xả” là không phân biệt, kì thị trong tình yêu. Mình yêu ai, hạnh phúc của người ta là của mình, khó khăn của người ta là của mình, khổ đau của người ta là của mình. Không thể nói đây là vấn đề của em/ anh, em/ anh ráng chịu. Khi yêu, hai người không phải là hai thực thể riêng biệt nữa, hạnh phúc khổ đau không còn là vấn đề cá nhân. Tất cả những gì mình phải làm coi đó là vấn đề của hai người, chuyển hoá nỗi khổ đau, làm lớn thêm hạnh phúc.

Này người trẻ, bạn nghĩ về tình yêu của mình đi, có “từ bi hỉ xả không”?Bạn hãy can đảm tự hỏi mình rằng “Người yêu ta có hiểu niềm vui nỗi khổ của ta không? Có quan tâm đến an vui hàng ngày của ta không? Người ấy có nâng đỡ ta trên con đường sự nghiệp không?...” Và tự hỏi lại mình, liệu bạn có đang thành thực với tình yêu của mình?! Liệu tình yêu của bạn đã đủ “từ bi hỉ xả”?!

Tình dục và tình yêu

Phật giáo quan niệm như thế nào về tình dục trong tình yêu? Không phải ngẫu nhiên mà vị thiền sư tôi được hạnh ngộ bắt đầu vấn đề này bằng cách bàn về “thân tâm” trong truyền thống văn hoá Á Đông.

Trong truyền thống văn hoá ta, thân với tâm là “nhất như”, tức là nếu ta không tôn kính thân thể người yêu thì cũng không tôn kính được tâm hồn người ấy. Yêu nhau là giữ gìn cho nhau, kính trọng nhau. Khi sự rẻ rúng xem thường xảy ra thì tình yêu đích thực không còn.

Thân thể ta cũng như tâm hồn ta. Có những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn, chúng ta chỉ chia sẻ với người tri kỉ. Thân thể ta cũng vậy, có những vùng thiêng liêng và riêng tư, ta không muốn ai chạm tới, ngoài người ta yêu, ta tin, ta muốn sống trọn đời, trọn kiếp.

Trong tình yêu lớn và cao quý, bất cứ lời nói và cử chỉ nào cũng phải biểu lộ sự tương kính. Người con trai phải tôn trọng người con gái mình yêu, cả thân thể lẫn tâm hồn. Người con gái biết giữ gìn, cũng là biết làm người yêu thêm tương kính, nuôi dưỡng hạnh phúc lâu dài về sau.

Bạn muốn thương yêu theo phương pháp Phật dạy chăng? Hãy hiểu, thương và tương kính người yêu của mình, cũng chính là đem hạnh phúc đến cho người và cho mình vậy!

Thu Minh (Theo Dantri)

Giáo khoa xưa… và nay

Cách đây chừng vài chục năm (cuối thế kỉ hai mươi), có những cuốn sách mà kẻ bình dân chỉ cần nghe đến tên đã... kinh, lại như vịt nghe sấm, cả đời chưa chắc đã mơ được nhìn thấy, đừng nói đến việc biết nó mô tê ra làm sao, bởi những sách ấy như chỉ có ở đâu đó trên... trời. Nó tồn tại giữa cõi đời này hình như chỉ để dành riêng cho những đại học giả, đại tác gia, những nhà đại nghiên cứu... dùng đến mà thôi. Nó là sở hữu độc quyền của những đại thư viện, đại bảo tàng, đại... gì gì đó giữa... không trung. Đó là những cái gì mà: Tứ thư?, Ngũ kinh?, là: Sử kí?, Toàn thư?, Cương mục?, là ... Liệt quốc?, Xuân thu...?, là Bách gia chư tử?... vân vân và... vân vân.

Kẻ viết những dòng này còn nhớ như in hồi nhỏ, ông nội cầm tay dạy viết chữ Nho. Dạy đến chữ “ngôn” (
- nói), ông giảng: đầu tiên là một nét chấm cong cong, tựa như cái lưỡi giương lên chuẩn bị uốn. Tiếp theo là ba nét ngang, đó là chữ tam, nghĩa là phải uốn lưỡi đủ ba lần. Dưới cùng mới là chữ khẩu (miệng), ngụ ý bấy giờ hẵng mở miệng ra. Ghê thật, chỉ có một chữ “ngôn” là nói, mà trên mặt chữ đã dạy người ta phải “uốn lưỡi” ba lần trước khi mở miệng. “Ngôn” mà lúc nào cũng cẩn thận, chu đáo thế, mới mong tránh được loạn ngôn (nói lung tung), tục ngôn (nói bậy bạ), xảo ngôn (nói láo), cẩu ngôn (nói đểu)... Vậy thì cái thứ chữ Nho gọi là tượng hình kia, xem ra không phải chỉ có “tượng hình” mà thôi đâu.

Thế ra các cụ ngày xưa học chữ đến đâu thì cũng đồng thời học làm người đến đó. Ông tôi bảo rằng những sách hiếm trên kia chính là những bộ giáo khoa của hàng nghìn năm khoa cử, đã đào tạo nên những trạng nguyên, tiến sĩ, cử nhân... nức tiếng một thời. Có người đạt tới trình độ kinh bang tế thế, đem sở học cứu nước, giúp đời. Có người thấu suốt cả vũ trụ, nhân tình, xem cỗ máy huyền vi, bí hiểm của Tạo hoá như trong lòng bàn tay, để lại những lời “sấm” mà hàng trăm đời sau mới nghiệm ra được... Tất cả đều học trong những sách ấy, đời nào cũng đọc những chữ ấy mà thôi, thế mà học chẳng bao giờ hết, đọc chẳng bao giờ cùng. Vậy những sách ấy dạy cái gì mà ghê gớm vậy? Ông tôi bảo: dạy làm người. Tất cả chỉ nhằm dạy làm người mà thôi, còn sau đó có làm quan, làm thầy, làm dân... gì thì tuỳ theo thời thế. Trước tiên hẵng cứ biết làm người, thì sau đó làm cái gì cũng có kết quả tốt đẹp...

Tuổi thơ nghe rồi để đấy. Đến lúc trưởng thành, thi thoảng lại lởn vởn những thắc mắc về bài học ngày xưa. Đã sinh ra kiếp người rồi mà vẫn còn phải học... làm người nữa, thì các cụ ngày xưa liệu có rắc rối, liệu có phức tạp hoá vấn đề? Thánh nhân hình như cũng biết điều đó, bèn “đùa” một câu rằng: “người đọc sách, nếu có thừa thì giờ, thừa sức khỏe thì nên làm quan, người làm quan, nếu có thừa thì giờ, thừa sức khỏe thì nên... đọc sách”. Nói thế chẳng hoá ra người đọc sách thường không mấy khi làm quan, còn người làm quan lại không mấy khi đọc sách hay sao? Ấy là cũng “diễn” đùa ra thế thôi. Chứ ý của Thánh nhân muốn khuyên người ta hãy đọc sách trước khi làm quan, và khi làm quan rồi thì vẫn nên đọc sách. Đọc sách để làm người, làm người trước khi làm quan, làm quan rồi vẫn tiếp tục học làm người... Tuỳ theo mỗi người, mỗi trình độ, lại có những thứ bậc cao thấp khác nhau về cùng cái việc làm người ấy. Khổng Tử ngày xưa dạy chữ “nhân” (
- người, thuộc về người). Học trò của Ngài suốt đời học chữ “nhân”, làm theo chữ “nhân”. Có người đạt tới trình độ có thể làm tướng soái (như Tử Lộ), có người mà tài năng có thể trông coi một ấp cả ngàn nhà (như Nhiễm Cầu), có người có thể thắt đai, đội mũ, ngang dọc giữa triều đình (như Công Tây Xích)... Thế mà hỏi những người ấy đã “nhân” chưa, Ngài đều bảo: “không lấy gì làm chắc”. Vì thế mới có chuyện một vị túc nho cả đời đọc sách, làm thơ, đức độ uyên thâm từng khiến thiên hạ phải bái phục. Tưởng “làm người” mà đến thế thì thôi. Vậy mà gặp khi mẹ mất, phải về cư tang ba năm bên mộ cho tròn đạo hiếu, bấy giờ mới nhận ra rằng cả đời mình, chỉ có ba năm ấy là gần với cái đạo làm người nhất mà thôi. Xem thế thì biết, chẳng những cái sự đọc sách là không bao giờ hết, mà cái việc làm người kia cũng chẳng bao giờ cùng.

Vậy những sách giáo khoa thời hiện đại dạy cái gì? Dạy nhiều thứ lắm. Chưa kể hầu như mỗi năm phải in lại một lần để cập nhật “kiến thức” cho học trò, đồng thời “cập nhật” luôn... túi tiền của những “nhà” làm ra sách giáo khoa cho nó không ngừng tăng thêm phần “rủng rỉnh”. Chỉ riêng những thứ cần phải nhồi nhét cho học trò, cũng đã phải thông cảm với các nhà giáo dục thời nay. Kiến thức càng ngày càng như trời, như biển. Bao nhiêu môn phải dạy, môn nào sách cũng chất cao như núi, trong khi quỹ thời gian của kiếp học trò thì có hạn. Thế là theo nghề nào thì cao mấy cũng chỉ chuyên về nghề đó mà thôi, còn những lĩnh vực khác đành lơ mơ, thậm chí có khi mù tịt. Đó gọi là chuyên môn hẹp, càng cao càng hẹp. Cái gọi là “dạy làm người” tất nhiên cũng có, nhưng chỉ chiếm một tỉ lệ rất “khiêm tốn”, đại khái cứ biết yêu... chế độ là được. Còn thì phải tập trung quỹ thời gian sư phạm cho việc dạy cộng trừ nhân chia... cho thành thạo, dạy nghề nghiệp, dạy chuyên môn, rồi ngoại ngữ, vi tính... cho cao vút, đặng lúc vào đời biết cách mà làm một con cừu cho “tử tế”, mà làm ăn, mà (có khi) làm “quan”, làm tiền, làm kinh tế... Cái sự “làm người” (thật) kia sau này, nếu quả có quan trọng, thì trăm sự trông cậy vào hoàn cảnh, vào gia đình, bè bạn..., vào chính cái con “người” ấy nếu cần thì tự tìm lấy “giáo khoa” mà đọc, mà nghiền ngẫm gặp chăng hay chớ, được đến đâu hay đến đó... Cho nên đừng ai lấy làm ngạc nhiên khi thấy một kĩ sư, thậm chí một tiến sĩ thời nay, đọc thơ ca “Cách mạng” thì vanh vách như một con vẹt, trong khi lại không hiểu nổi... một câu ca dao...

Còn nhớ sách giáo khoa vỡ lòng ngày trước (không biết bây giờ còn không) có một câu đố rất hay: “Cái gì cao lớn lênh khênh / đứng mà không tựa ngã kềnh ngay ra”. Thầy giáo giảng đó là cái thang. Và hình như cũng chỉ giảng thế mà thôi. Sau này lớn lên, cuộc sống gặp trăm bề ngang dọc, câu đố đó được hiểu ra rằng ở đời, nếu không “tựa” vào một cái gì đó, ví dụ ô dù, thế lực, bè cánh nọ kia... thì dù có leo được lên cao, cũng khó mà đứng vững, dễ “ngã kềnh” như chơi. Có biết đâu rằng câu đố ấy của dân gian, vốn ngụ ý cái điểm “tựa” kia hoàn toàn khác. Đó chính là kiến thức “làm người”, mà nếu có để tựa vào đó, thì con người ta sống ở đời, sẽ chẳng lo bị nghiêng ngả đi đâu. Lúc “vỡ lòng” ấy, nếu được thầy giáo giảng cho như thế thì sau này, hẳn sẽ còn hay thêm ra biết bao nhiêu.

Kí ức trên cũng hao hao chuyện cụ Nguyễn Trãi ngày xưa dạy vua Lê Thái Tông. Cụ giảng có đúng một chữ: “chỉ” (
) trong câu “An nhữ chỉ” (yên với cái chỗ của mình) của Kinh Thi, không thêm nửa chữ thứ hai. Nghĩa của chữ “chỉ” đó được cụ giảng đại ý: “chỉ” nghĩa là cái gốc, cái điểm tựa, hay cái chỗ bất di bất dịch của mình. Lúc nào cũng phải ở đúng cái chỗ (chỉ) đó, nếu có phải rời xa, thì cũng chỉ là tạm thời, không thể rời mãi mãi. Ví dụ chỗ của vua là ở trong cung, nếu có phải đi ra ngoài, thì cũng chỉ là tạm thời, rồi cũng phải quay về trong cung. Gốc của vua là ở nhân nghĩa. Nếu có phải trấn áp ra oai, sử dụng hình phạt... thì cũng chỉ là để răn đe... rồi cũng phải trở lại ngay cái gốc nhân nghĩa ấy... Rời xa cái gốc, cái điểm “tựa” của mình thì đừng nói thứ dân, đến bậc làm vua cũng dễ “ngã kềnh” y như cái thang thuở “vỡ lòng” kia vậy.

Quanh quẩn lại quay lại với chuyện sách hiếm. Ấy là nói trước kia. Chứ bây giờ thì may mắn hơn nhiều. Những bộ “giáo khoa” bất hủ ấy, những kiến thức ấy không còn là độc quyền của một vài “nhà”, hay một vài “tủ”... nào nữa. Dạo qua các nhà sách lớn nhỏ, thấy bày bán la liệt đủ các loại Đông Tây kim cổ. Sách thì có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch..., rồi Sử ký, Toàn thư... cả đến Đại học, Trung dung, Mạnh Tử..., truyện thì nào là Tam quốc, Đông chu, Thuỷ hử, Liêu trai... In đẹp có, in bình thường có, bìa cứng có, bìa mềm có. Mà không phải bằng thứ chữ tượng hình đánh đố ngày xưa đâu. Đã dịch ra tiếng mẹ đẻ rồi đấy. Lại có những bản dịch chất lượng vào loại tuyệt luân, siêu đẳng, dịch mà đến mức như gọi được cả ba hồn chín vía của chữ nghĩa ra. Đó là những bản dịch của các bậc kỳ nhân như các cụ Bùi Kỉ, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Bội Châu, Phan Kế Bính, Ngô Tất Tố... Tất nhiên phải hết sức “cảnh giác” với những sự cẩu thả (nếu có), thậm chí đến mức biến những viên ngọc quý thành ra... đá cuội của các nhà xuất bản (thời buổi chợ búa mà). Giá cả kể cũng hơi cao, song không phải không thể nào mua được. Sách đầy ra đấy rồi, nếu tự cho là đủ rồi, không muốn học làm người thêm nữa thì thôi, chứ muốn học thì đã có sẵn “giáo khoa”. Kiến thức đã không còn là “độc quyền” riêng của “nhà” ai nữa, đã “xuống đường”, đã “bình dân” hoá đến như thế, còn gì nữa mà không may mắn. Chỉ không biết đến bao giờ mới “phổ cập” được mà thôi.

Phạm Lưu Vũ

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2007

CHỢ “CÓC” HÀ NỘI

Không như chợ Bắc Giang trong tranh Trần Văn Cẩn trai thanh gái lịch quần áo mớ ba mớ bảy, mặt ngời như trẩy hội; chợ Mường Khương, gùi bế trên lưng, không chỉ mua bán mà còn giao lưu tình tứ, âm thanh đàn tính, điệu hát Sli trong tranh Nguyễn Trọng Niết; chợ Kỳ Lừa xe ngựa song mây, nón lá đòn gánh, người Việt người Tàu; chợ Kim Liên xưa bánh đa quạt than, lều gánh bánh cuốn... chợ cóc Hà Nội dẹp chỗ này nhảy sang chỗ khác. Tất cả các chợ cóc Hà Nội hôm nay buôn bán mặt hàng giống nhau, cùng cảnh ngộ là ít vốn. Nhắc đến tên chợ, người nghe đã thấy âm hưởng, đồng điệu về một cái chợ con con bán rau cỏ, thịt cá với vài thứ hàng khô... mùi chua chua.

So với siêu thị, chợ lớn có tên thì chợ cóc cóc cáy thật. Mặt chợ nhếch nhác, mặt người bán hàng thảng thốt chạy công an, quản lý, thúng mẹt, gồng gánh xe đẩy xe lai, giần sàng chồng chặn lên nhau, mớ rau mớ tép, dưa chuột mướp đắng, ớt chanh hành nghệ... như vừa mới từ đồng ruộng, từ thôn làng bước ra. Mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy bán. Mấy chị bán lòng lợn, nem tai thì đóng bàn thật cao cách li mặt đất vươn tới tầm mắt người mua, hòng phô trương mặt hàng của mình, đánh mạnh vào thị giác, kích thích sự thèm ăn của khách. Mục đích là bán hết hàng trong ngày, bán càng nhanh càng tốt vì lòng lợn nem tai để đến ngày mai không hoai thiu thì cũng mùi khăn khẳn, đổ đi thì lỗ vốn mà cố tình bán cho khách, lừa đảo người mua, không sứt đầu cũng mẻ trán.

Hàng dưa cà khiêm nhường kê bàn cao hơn người bán rau, thấp hơn người bán lòng bán thịt. Dưa cà thì lo gì, không bán hết hôm nay thì ngày mai bán, bán mãi không hết thì đổ đi, vốn ít lấy công làm lãi là chính. Hàng rau chân chất quê mùa, rau tươi lòng người bán rau lại héo, khách mua rau chẳng khi nào khen rau mà hỏi rau này có phun thuốc sâu không, người bán rau thề thốt đến đứt lưỡi. Thề xong rồi nói giá, người mua chẹp miệng rau mà cũng đắt thế ư?

Chợ cóc họp chớp nhoáng buổi sáng, trưa lác đác vài hàng, chiều về nắng tắt đông hơn, nhộn nhịp hơn. Nơi nào có chợ cóc nơi đó có tắc đường. Mặc dù chợ cóc là chợ nhảy, chợ tự di dời từ ngõ nọ sang ngõ kia trong phố, buôn bán nhếch nhác. Dù vậy, chị bán thịt vẫn mặt đầy son phấn, chị cũng có mặc cảm về gương mặt. Mặt chị không nghiêng nước nghiêng thành cũng chẳng xiêu đình đổ quán nhưng được cái dễ gần và như người đời vẫn nói đó là gương mặt có duyên. Không phải là duyên tình duyên kiếp mà là duyên bán hàng. Tạo cho khách hàng mua thịt một niềm tin, nhưng không hiểu gần đây do thịt ế hay do dung nhan mỗi ngày một phai nhạt, hay do đi qua siêu thị cửa hàng mà chị càng mặc cảm hơn nên cứ trát phấn bôi son. Mỗi ngày chị trát đến vài lần, khách hàng mua thịt cũng phân vân, bán thịt có đủ lãi lời để mua phấn trát không?

Người đời hay nói “hàng cá, hàng thịt” là cách nói những người bán thịt, bán cá chua ngoa đanh đá, sểnh một tí là cân điêu. Cân thiếu, cân điêu không cứ gì hàng thịt hàng cá mà trong siêu thị cũng thiếu cũng điêu như thường. Nhưng thực tình, mua thịt mua cá mà không tỉnh táo thì cũng bị họ bán điêu cho thật. Thỉnh thoảng người mua cũng gặp phải bữa cá, bữa thịt mang về nhà thịt ôi cá chết. Kỳ thực cũng lạ, ở chợ đã nhìn rất kỹ mặt hàng, từ chợ về nhà nào có xa xôi gì. Thế mà... Thương hiệu của chợ cóc là chợ cóc không cần thương hiệu. Chợ cóc chỉ cần bán rẻ, bán cho xong hàng là thôi. Mai khách hàng tức giận bỏ chợ cóc này đi chợ cóc khác, đi chán rồi quay về cũng không sao. Chợ cóc nhẫn nại như một người vợ xấu, không đả động dung nhan hoặc kiêu hãnh dung nhan của mình để yêu và được yêu. Người xấu đem trái tim mình để yêu và yêu bằng cả trái tim!

Không như siêu thị, chợ lớn bán hàng cho khách xong không thèm nhớ khách. Khách mua gì thì tùy, gạ gẫm khách mua chính hàng của mình, vậy thôi. Người bán hàng chợ cóc có một thế mạnh: mua con cá, chị bán cá hỏi người mua về kho hay nấu canh, vừa bán vừa tư vấn cho khách mua rau gì, quả gì về nấu thì ngon. Khách hàng đứng đợi mà không nóng ruột vì còn được nghe hướng dẫn cách nấu nướng... Chợ cóc tình cảm hơn!

Thỉnh thoảng đi dự tiệc đâu đó, có người phụ nữ nào dung nhan không đẹp, vài người ngồi cạnh nhau lại thì thầm vào tai nhau: mặt con ấy như mặt con “bán thịt”. Nói vậy là đổ thừa, đổ điêu, vu khống... chứ nhìn những người bán thịt trong chợ cũng... xinh! Họ bán thịt là bán buôn lương thiện. Chắc là câu nói trên hàm ý chỉ những kẻ buôn thịt bán người ở nhà thổ, lầu xanh, loại người mà Nguyễn Du từng miêu tả: “Nhác trông nhờn nhợt màu da/ Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao”. Hay “Tình cờ chẳng hẹn mà nên/ Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”. Mạt cưa chẳng tội tình gì, mướp đắng cũng ngu ngơ như củ xu hào, hai thứ ấy chẳng liên quan gì nhau sao lại một phường với nhau? Giáp mặt với Tú Bà như xoa mạt cưa vào tay ngứa và rát khó chịu. Cũng như vậy, Mã Giám Sinh bề ngoài “mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao”, vậy mà bên trong mưu mô. Bán thịt là bán thịt cỡ Tú Bà, Mã Giám Sinh mới gọi là bán thịt! Ðó là bọn buôn thịt bán người vô liêm sỉ.

Cuộc sống hôm nay, cuộc sống của một bộ phận người phất lên giàu có. Giàu xổi! Những đồng tiền kiếm được không phải từ công sức, từ mồ hôi nên tiêu tiền không tiếc. Người ta đi siêu thị, đi cửa hàng mua đồ ăn thức uống. Mua bán là chuyện thường tình, ai vào mua chẳng được. Cửa hàng không phải là tất cả, siêu thị không phải là thiên đường mua sắm, mà không phải lúc nào cũng ra cửa hàng hay đến siêu thị được. Chợ cóc là giải pháp trong tầm tay. Chợ cóc lại có nhiều thế mạnh. Các mặt hàng như dưa, cà, chả, bún ở chợ cóc ngon hơn nhiều. Chỉ nghĩ như vậy thôi, chợ cóc đã có lý do tồn tại rồi, mặc dù lý do ấy rất khiêm nhường.

Lý do khác có phần sâu xa hơn, người Hà Nội gốc ở phố thì ít, bộ phận dân cư đông đúc nhập vào Hà Nội là từ những xã thôn ngoại ô, từ vùng châu thổ sông Hồng, hoặc các vùng quê Thanh-Nghệ... Tập tính sinh hoạt của bộ phận cư dân này là nhỏ lẻ, manh mún, bắt chước nhau trong sinh hoạt. Suy nghĩ mang tính "cây nhà lá vườn, nhất cử lưỡng tiện" vừa đi chợ vừa buôn chuyện. Người Hà Nội không như người Sài Gòn, người phía Nam đọc báo để lấy thông tin, mà họ đọc báo để tìm hiểu những mánh khóe sinh hoạt cũng như chuyện tình... từ đó đúc kết lại thành kinh nghiệm cho bản thân. Người Hà Nội thích ngồi buôn chuyện, chợ cóc không thuần chỉ là buôn bán nhỏ mà cũng là nơi góp chuyện "dưa lê".

Chợ cóc không thể thiếu được trong các phố phường đông đúc của thủ đô khi người thủ đô chưa có những biến đổi lối sống theo trào lưu hiện đại!

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2007

newbie

vừa mới là blogger nên chưa có bài gì. các bạn cứ xem và gợi ý nhứ

Thứ Sáu, 26 tháng 10, 2007

Chuyện Bia hơi

Khi tôi đến, câu lạc bộ Cây Si đang vào tuần thứ ba, không khí có vẻ vẻ trầm lặng. Trên đầu cả nhóm, những chùm rễ si lưa thưa đang ngả sang trăng trắng đung đưa rất khẽ. Lạ nhỉ, có nhẽ nào trời ẩm ướt sắp đổ mưa lại là cái lý để dân nhậu phải lặng lẽ.
- Barca bị Chelsea hạ rồi. Ba - một! - Một người giải thích cho sự ngơ ngác của tôi.
- Dù sao còn trận lượt về kia mà.-Người khác lên tiếng - Bóng đá tấn công là thế. Thua thì thua, xem vẫn quyến rũ.
- Nào, thì ta uống mừng bóng đá tấn công!
Người thứ ba tổng kết. Cả bọn ngửa cổ cạn nỗi đắng cay của Barca, một tuần nữa cho hi vọng ở trận lượt về. Nhất trí trăm phần trăm.
Ơ bãi bia, người ta luôn chuộng phong cách tấn công. Sự lãng mạn tuyệt vời hun đúc những người đàn ông, đoàn kết họ lại trong tinh thần đại đồng ghê gớm. Khéo nay mai có bóng đã chuyên nghiệp, các câu lạc bộ cổ động viên tuyển người trước hết phải sở cậy vào bãi bia. Rồi cũng đến lúc có những bãi Thể Công, bãi Đường sắt như cái quán bar nổi tiếng của đội Olimpic Marseille tít bên trời Tây kia chứ.....(Tiếp tại đây)

Rác ngoại

Một anh bạn làm kinh tế nói với tôi rằng sở dĩ sản xuất và thị trường đường trong nước hết sức phập phù là vì khoảng mấy năm mới bung ra làm ăn, các tỉnh đua nhau nhập về những nhà máy đường kỹ thuật quá cổ lỗ. Ở nước người, người ta sẵn sàng bán tống bán táng đi. Gạ bán rẻ. Gạ cho nợ. Thế là các sếp nhà ta hý hửng rước những của nợ ấy về. Thứ rác này vô duyên ở chỗ sau khi lộ tẩy, nó nằm chình ình ra đấy, các ông chủ bỏ thì thương vương thì tội. Trong cảnh chết không chết mà sống cũng không ra sống, chúng tố cáo một tội lỗi mà xưa nay ít ai để ý.

Thuốc Tây và xi măng, ô tô và vải vóc… không thể kể hết những loại hàng “hết đát” từng bày bán, nó biểu hiện sự ngờ nghệch của chúng ta khi nhập hàng ngoại. Song nó là hàng thuần túy. Việc nhập các loại máy móc cổ lỗ đáng sợ hơn. Nó là thứ rác có khả năng sinh sôi nảy nở. Hoặc đúng hơn là sẽ sinh nở ra những lạc hậu, cổ hủ, trì trệ.

Khoảng giữa những năm 1980, việc nhập hàng ngoại bị hạn chế, như xe gắn máy chẳng hạn, may lắm chỉ có một số người đi tàu viễn dương được mang về mấy chiếc loại bãi thải của bên Nhật. Để đỡ buồn, hồi đó một tờ báo đã mỉa mai, dân mình thật vô địch về nhập hàng bãi thải. Nay thì chuyện đó đã lùi xa như chuyện cổ tích. Nhiều loại ô tô hiện đại đã xuất hiện trên đường phố. Nhưng một người bạn tôi lại vẫn cứ thấy chua xót thế nào. Anh bảo trong trường hợp này, cái mà chúng ta đang nhập là tư tưởng ăn chơi đua đòi hưởng thụ, bất chấp tình cảnh nghèo đói chung của cộng đồng.

Thật vậy, cùng với các loại rác vật chất, còn một loại rác nữa phải nói tới, cái mà người ta gọi là văn hóa phi vật thể như các kiểu nhà, các loại nhạc phẩm, các loại mốt, những cách nghĩ cách sống, những thị hiếu vốn hôm qua bên nước người là đúng đắn, tiến bộ, nhưng hôm nay đã không còn thích hợp với thực tế và không còn khả năng giúp cho ta phát triển theo kịp với thế giới.

Ai bảo tôi lạc hậu tôi xin nhận, chứ tôi chịu, không chấp nhận được kiểu nhuộm tóc vàng của một số thanh niên hiện nay. Chịu, không chấp nhận lối chêm tiếng Anh trong nói và viết. Chịu, không chấp nhận lối làm báo lá cải, trang văn hóa đưa toàn chuyện giật gân về các nghệ sĩ xứ người, xứ ta. Những thứ rác này làm hỏng thêm cái việc trọng đại mà chúng ta đang lúng túng là sống chung với thế giới.

Ngay từ khi bắt đầu tính chuyện hội nhập, một kịch bản hai mặt đã được dự kiến: cùng với tiền, vốn, các phát minh kỹ thuật, nói chung là những gì ưu tú của nước ngoài, thì những loại cặn bã của thế giới cũng sẽ tràn vào xứ ta. Trước khi có biện pháp thích hợp, nhiều người đã lo. Nhưng lo sao lại được!

Tuy đã được răn đe trước mà lúc này một người như tôi vẫn thấy sửng sốt. Một là không ngờ các thứ ấy lại đến với mình nhanh đến vậy; và thứ hai là không ngờ chúng lại gần gũi với chúng ta, y như là của chính chúng ta làm ra, hoặc vẫn quanh quẩn ở những bãi rác ngay bên nhà ta.

Rác ngoại gợi ra ý nghĩ về rác nội. Hóa ra ở ta những thứ này đâu có thiếu. Rác theo nghĩa đen do mình xả ra đang là một vấn đề đau đầu của xã hội.Và cả rác với nghĩa bóng, rác với tư cách những lạc hậu, vụ lợi, phi nhân bản trong cách sống, cách nghĩ. Nếu không có việc nhập rác ngoại thì những tư tưởng thoái hóa thành rác trong đầu nhiều người đâu có dịp bộc lộ cho chúng ta thấy để mà ghê sợ và chờ đợi nó mỗi ngày lại có mặt rộn rã thêm nữa.

Vương Trí Nhàn

Từ một nụ cười.

Cô gái trẻ mỉm cười với một ông trông có vẻ rất u sầu và ủ rũ. Ông cảm thấy phấn chấn hơn, về nhà nhớ đến sự tử tế của người bạn cũ, ông ấy viết thư cảm ơn. Người bạn nhận được thư rất vui vì được tri ân như vậy, nên bo tiền rất hậu cho cô hầu bàn.

Cô cảm thấy may mắn nên đi mua vé số và trúng độc đắc. Đi nhận tiền trúng số cô tặng vài đồng bạc lẻ cho người ăn mày ven đường. Người này đã 2 ngày không có tí gì vào bụng. Sau khi no nê, người ăn mày lại gặp con chó hoang đang rét run lập cập. Ông ta ôm con chó về ủ ấm cho nó. Đêm ấy khu nhà mà người ăn mày ngủ tạm có đám cháy lúc nữa đêm khi mọi người đang say sưa trong giấc nồng. Con chó sủa liên tục cho đến khi mọi người thức giấc và chạy khỏi khu nhà.

Trong số những người được cứu sống có 1 cậu bé, sau này trở thành một bác sĩ điều chế ra 1 loại vaccin có thể ngăn ngừa bệnh cứu sống hàng triệu con người.

Tất cả xuất phát từ một nụ cười.

Mời các bạn 10D bình bài "Đôi dép"

Bài thơ đầu anh viết tặng em
Là bài thơ anh kể về đôi dép
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết
Mọi vật tầm thường cũng viết thành thơ

Hai chiếc dép kia gặp nhau tự bao giờ
Có yêu đâu mà chẳng rời nữa bước
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược
Lên thảm nhung, xuống cát bụi cùng nhau


Cùng bước cùng mòn không kẻ thấp người cao
Cùng chia sẻ sức người chà đạp
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác
Số phận chiếc này phụ thuộc chiếc kia

Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi
Mọi thay thế sẽ trở nên khập khễnh
Giống nhau lắm nhưng người sẽ biết
Hai chiếc dép này chẳng phải một đôi đâu

Cũng như mình trong những phút vắng nhau
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh

Đôi dép vô tư khăng khít, song hành
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội
Lối đi nào cũng có mặt có đôi

Không thiếu nhau trên những bước đường đời
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái
Nhưng anh yêu em bởi những điều ngược lại
Gắn bó đời nhau bởi một bước đi chung

Hai mảnh đời thầm lặng bước song song
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
Chỉ còn một là không còn gì hết
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia

Cuộc đời ta mãi mãi chẳng xa lìa
Mất một chiếc, chiếc kia vào sọt rác
Hay cố lê bên những gì phế thải
Sống âm thầm nơi xó góc tối đen

Rồi ngày kia buồn chán không ánh đèn
Chiếc còn lại cũng ra đi vĩnh viễn
Ngày ra đi không một người đưa tiễn
Nhưng vui lòng vì gặp lại chiếc kia

Một nơi xa hai chiếc chẳng chia lìa
Vì đã thoát khỏi cảnh đời ô trọc
Không hơn thua ghét ghen hay lừa lọc
Bước song hành một dạ đến ngàn thu "

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2007

Quyền lực là thách đố

Ai cũng muốn có quyền nhưng không phải ai cũng có thể cầm quyền.

Nếu quyền lực nằm trong tay kẻ nghèo thì mối nguy rất lớn. Người nghèo trí đoản mà tham lam. Vì nghèo nên lúc nào cũng thèm tiền và họ có thể biến quyền lực thành tiền. Họ hành người khác cho ra tiền. Họ bán chức tước để lấy tiền. Quyền lực đẻ ra sự tha hóa. Quyền lực tuyệt đối đẻ ra sự tha hóa tuyệt đối. Người giàu nắm quyền lực rất khác người nghèo làm quan. Người giàu cầm quyền là để hành ý, hành chí chứ không phải vì kiếm vài đồng bạc. Vì thế khi cần thiết họ từ chức một cách nhẹ nhàng chứ không cố đấm ăn xôi. Người có tri thức cầm quyền cũng rất khác người ít học. Người tài giỏi không xem cái ghế quyền lực họ đang ngồi là to, vì cái đầu của họ còn lớn hơn cái ghế đó, vì thế họ không dùng những thủ đoạn hèn mạt để có quyền.

Người cầm quyền là người đứng đầu, mà Trung quốc gọi là “Đại nhân”. Chữ nhân đứng và chữ nhất gạch ở phía trên thành chữ đại. Như một người giang tay, giang chân đứng giữa trời đất. Đó là người số một, người đứng đầu. Nhưng chỉ cần đặt một dấu chấm nhỏ dưới nách bên trái thì thành chữ khuyển, tức là con chó. Quyền lực có thể đẻ ra sự tha hóa. Có quyền lực mà vẫn giữ được cốt cách, tâm vẫn sáng, trí vẫn minh mới là người có bản lĩnh. Do đó, quyền lực là thách đố gay gắt nhất. Không có quyền thì sợ thấp cổ bé họng, không được xã hội nể trọng, không khẳng định được mình. Nhưng có quyền rồi thì tha hóa, tự đánh mất chính mình, thân bại danh liệt.

Thật ra quyền lực không nhất thiết phải là chức tước địa vị. Tài năng là một quyền lực bất biến, còn chức vị là thứ quyền lực khả biến. Quyền lực do tài năng đẻ ra là bền vững nhất, lương thiện nhất. Còn quyền lực do chức vị đẻ ra thì nay còn mai mất và luôn thường trực nguy cơ tha hóa. Nếu hiểu hết chữ quyền rồi mới cầm quyền thì không còn là mối lo của chế độ và xã hội.

Tham khảo: "Quyền lực và tri thức "

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2007

Cố Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên

Vài nét về cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên

Cố Bộ trưng Nguyễn Văn Huyên sinh năm 1905. Ông đỗ cử nhân Văn chương kiêm cử nhân Luật tại Đại học Sorbonne năm 1931. Trong thời gian làm bằng Tiến sĩ ở Pháp ông dạy học tại Trường Ngôn ngữ Đông phương.

Ngày 17/2/1934, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ văn khoa tại Đại học Sorbonne,
Paris. Luận án chính là "Hát đối của nam nữ thanh niên ở Việt Nam" và luận án phụ là "Nhập môn nghiên cứu nhà sàn ở Đông Nam Á". Chủ tịch hội đồng chấm luận án, giáo sư Vendryès, coi đó là “một sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử Sorbonne”.

Năm 1935 ông về nước làm giáo sư trường Bưởi (trường Bảo hộ) Ban Tú tài bản xứ, cùng dạy học với người bạn thân thiết là giáo sư Nguyễn Mạnh Tường.

Năm 1938 sau thời Phan Bội Châu và Đông Kinh Nghĩa Thục, ông từ bỏ nhiệm vụ dạy Sử - Địa Pháp cho lớp trẻ Việt Nam và chuyển sang Trường Viễn Đông Bác cổ.

Năm 1938, ông giúp thành lập bộ môn lịch sử văn minh Việt Nam tại trường Đại học Luật Hà Nội.

Ông được Quốc hội cử giữ chức Bộ trưởng Giáo dục vào phiên họp tháng 11/1946 và giữ trọng trách này trong 29 năm cho đến khi mất vào tháng 10/1975. Được giải thưởng Hồ Chí Minh, huân chương độc lập hạng nhất, tên ông được đặt cho phố chạy ngang Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nơi con út Nguyễn Văn Huy từng làm giám đốc.

…. Trong lúc họng súng của địch cách nơi ẩn nấp có vài mét, ông Bộ trưởng đã không nương tay giáng cho cậu con trai út của mình một cái tát "thật là đau". Nhờ đó, mạng sống của hơn chục con người và thành quả của cách mạng bảo toàn...

…. Trong những ngày tháng cam go đấu tranh ngoại giao tại Fontainebleau (Pháp) năm 1946, có một bức thư trĩu nặng tâm tư được gửi về gia đình của một "ông Nghè Tây học" xứ An Nam... Bốn tháng sau đó, ông nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh để trở thành vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục của Việt Nam cho tới ngày đất nước hoàn toàn thống nhất...

…… Có học vấn uyên thâm đỉnh cao Việt Nam đầu thế kỷ XX, lại giữ chức vụ then chốt trong Chính phủ Việt Nam đương thời, nhưng ông Bộ trưởng Huyên vẫn "vui vẻ" với khẩu phần ăn là ...hai bắp ngô luộc. Và, suốt gần 30 năm tại nhiệm, ông Bộ trưởng "chưa vào Đảng" đó vẫn cống hiến tài năng và tâm sức của mình cho ngành giáo dục tới tận khi trút hơi thở cuối cùng..

"Bộ trưởng chỉ có hai bắp ngô thôi!"

Những mẩu chuyện về cố Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên

Đọc tại đây

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2007

Ý KIẾN “THẢO DÂN”

Dưới đây là một đoạn tản mạn, về những vướng mắc vấn đề phổ cập tin học của 2 anh bạngià” của tôi trao đổi với nhau. Tôi xin đăng lên đây để chúng ta tham khảo và cho ý kiến đánh giá:

Hỏi :

-Tại sao xứ mình không Sản xuất máy tính giá bèo 100 US ( tất nhiên tính năng hạn chế) như Ấn Độ cung cấp cho trẻ em nghèo? Có những máy đó mọi người sẽ có điều kiện tiếp cận với tin học( XH hóa tin hoc), khi quen rồi thì vứt đi cũng được, sắm cái xịn.
Cứ nhìn
cái điện thoại bàn TQ, chỉ cần giải quyết khâu cơ bản nghe-gọi giá 50.000 đ thì rõ.
- Người thường chúng tô
i khi tiếp cận với tin học bị vướng 2 rào cản:

1. Thiếu kiến thức tin hoc căn bản, chủ yếu là học kiểu "truyền khẩu"
gọi là học
lỏm. Nghe các bác giảng giải toàn thuật ngữ cao siêu cóc hiểu được. Những cái như " cấu hình", " mặc định", " giao diện"...có thể sẽ đơn giản hơn nếu chúng ta giữ được sự trong sáng tiếng Việt và nhờ vậy chúng tôi sẽ trở nên thông thái hơn chăng?

2. Ngôn ngữ : Người sử dụng vừa phải đối mặt với ngôn ngữ vi tính vừa phải đối mặt với tiếng Anh. 2 cái dốt gặp nhau làm mình trở nên dốt hơn. Khó tiến bộ vì thế.
Như vậy vấn đề đặt ra là phải giản dị hóa ngôn ngữ vi tính và Việt nam hóa tiếng Anh ( trên máy).
Có mỗi Ye
s với No mà không biết clik vào thằng nào mới tức! Gần 60 tuổi rồi, đầu óc lú lẫn lại phải đồng thời học Anh văn , vi tính "bọ" nào chả ngán?!
Với tôi c
ái máy Vi tính vẫn chưa hiện đại - Một máy hiện đại là phải thật đơn giản trong sử dụng, không cần phải học vẫn xài được.
Sứ mạng
khai trí tin học của các bác quả là gian nan nhưng rất vẻ vang...
Vừa đi miệt vườn về, một tên
Hai lúa hỏi một câu vượt quá tầm hiểu biết về tin học mong các bác trả lời giúp:" Người ta nói quá xá tới phần CỨNG , phần MỀM, vậy có phần ...NHÃO không anh?".

Trả lời:

- Phần NHÃO, tiếng Tây gọi là "firmware", là phần mềm máy tính nhưng không được trực tiếp chạy bởi máy tính mà chạy trên một cái phần cứng nối với máy tính. Ví dụ một modem nối với máy tính. Modem có chương trình để thực hiện lệnh của máy tính. Cái chương trình đó có thể được nâng cấp bằng cách thay con chip lưu trữ chương trình trong modem, hoặc bằng cách nạp lại từ máy tính (tuỳ theo nhà SX quy định). Khi đó cái chương trình đó được gọi là phần nhão. Máy tính không xài chương trình đó, nhưng nếu không có chương trình đó thì một bộ phận của máy tính không chạy được (hiểu máy tính như một hệ thống chứ không chỉ có cái thùng CPU).

- Ngôn ngữ: việc bản địa hoá ngôn ngữ các chương trình máy tính (bao gồm hệ điều hành, như Windows, và ứng dụng, như Word) đòi hỏi mất nhiều công sức. Các công ti SX phần mềm thường chỉ làm cho các thị trường tiềm năng. VN là thị trường lớn về số lượng (tiểm năng) nhưng cũng có tỉ lệ vi phạm bản quyền cao (hết tiềm năng) nên không có điều kiện để người ta làm chương trình có giao diện tiếng Việt. Tuy nhiên nếu dùng phần mềm nguồn mở (Free Open Source Software, FOSS) thì hiện nay có bộ phần mềm văn phòng Ubuntu hỗ trợ tốt cho tiếng Việt. Vì tiếng Việt ở đây do cộng đồng những người lập trình trên khắp thế giới chung sức làm nên nhiều khi nó tối nghĩa đối với người quen dùng tiếng Anh, nhưng sẽ rất tiện cho người thuần Việt. Nếu có người dùng thuần Việt thì sẽ là nguồn phản hồi để cải tiến cái tiếng Việt đó. Tôi đã làm việc trên hệ thống này từ lâu rồi. Ưu điểm: không mất phí bản quyền, làm được mọi việc mà Microsoft Windows và Office làm được. Các trình ứng dụng thông dụng khác như Skype, Yahoo!, xem/sửa ảnh cũng có FOSS luôn.

- Đồng ý là các danh từ chuyên tin học nên dùng ngôn ngữ tiếng Việt để dễ hiểu. Nhưng với các khái niệm mới do Tây nghĩ ra thì có thể danh từ sẽ bị Việt hoá chứ vốn làm gì có. Ví dụ "blog" tôi vẫn kiên trì gọi là "trang tin" do nghĩa của nó. "Giao diện" tiếng Tây là "interface" ghép "mặt, face" với "giữa các, inter". Bản thân từ blog cũng là từ mới, xuất phát từ văn nói của Tây mà thành (từ weB LOG). Thế nên cố giữ gìn có tiêu hoá thêm các thứ mới. Thế giới thay đổi phản ánh vào ngôn ngữ là như thế.

- Laptop 100 USD trong chương trình "mỗi đứa trẻ một laptop" (One Laptop Per Children, OLPC) được khởi xướng bởi các hãng tin học lớn nhằm vào các trẻ em ở các nước đang phát triển. Chương trình này là phi lợi nhuận, ở Mỹ. Nước mình thì không thể SX được thứ máy như vậy, mà nhập từ ngoài vào thì cũng khó. Phi lợi nhuận thì lấy đâu ra bánh để chia?

(các vấn đề về firmware, OLPC có thể tham khảo thêm trên mạng, chỉ cần Google hoặc Wiki một nhát là ra)

Thông báo

Hôm qua ngày cưới con gái “rượu” của cựu lớp trưởng Ngô Vĩnh Phúc, các bạn lớp 10D nảy ra “ý tưởng”. Trong thời buổi công nghệ thông tin tại sao chúng ta không thể tạo ra một chỗ để hàng ngày có thể thường xuyên gặp nhau trao đổi thông tin, chia sẻ mọi niềm vui, nỗi buồn của nhau và giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Đó là lý do để Blog của lớp 10 D Trường Phổ thông công nghiệp ra đời. Rất mong các bạn biết được và tích cực tham gia vào sinh hoạt lớp 10D tại blog này. Địa chỉ Blog 10D như sau: http://10dptcnhn73.blogspot.com/ . Rất vui khi các bạn tích cực tham gia và đóng góp để nội dung sinh hoạt được phong phú. Xin mời tất cả các bạn trong lớp 10D đăng ký tham gia đăng bài lên blog 10D, gửi thư điện tử vào địa chỉ sau : 10dcnhn73@gmail.com hoặc Vinhnq1956@gmail.comđể làm thủ tục đăng ký. Đề nghị các bạn cho biết rõ tên và địa chỉ thư điện tử của mình. Mong các bạn nhiệt tình ủng hộ.
Thay mặt các bạn lớp 10D

Nguyễn Quang Vinh

"Thời đại" công nghệ thông tin

Tặng các bạn chùm ảnh ngộ nghĩnh của thời buổi "IT"











Thứ Năm, 4 tháng 10, 2007

buithang vao lan dau tien

thu dang bai lan dau!
Bui thang

Địa chỉ 10D

Để tiện việc liên lạc và trao đổi cho các cựu học sinh lớp 10D trường PT cấp III Công nghiệp Hà nội khóa 1970 -1973. Trang tin này ra đời.
Rất mong các bạn cùng tham gia.
Nguyễn Quang Vinh