Thứ Tư, 10 tháng 9, 2008

Người mẫu bức tranh “Người đàn bà xa lạ”: Chuyện tình với kết cục buồn


Ở huyện Phategiơ, tỉnh Kursk có điền trang của nữ quý tộc dòng dõi Bestugieva. Bà có một người họ hàng xa ở Sant-Peterburgh và một biệt thự ở đó.
Người cháu trai của bà điền chủ, một sỹ quan vừa giải ngũ từ Kavkaz trở về nhà tại Sant-Peterburgh, ghé qua thăm người thím.
Chàng Bestugiev trẻ tuổi sửng sốt bởi vẻ đẹp quyến rũ của cô hầu phòng là nông dân được đưa tới từ làng bên. Vì thế mà anh nán lại điền trang. Được sự đồng ý của người yêu, người cháu khẩn cầu thím mình hãy cho phép được mang theo cô hầu phòng, người mà cậu đã quyết định sẽ lấy làm vợ sau khi giới thiệu với cha mẹ mình.
Nghe xong lời thỉnh cầu không bình thường ấy, bà điền chủ vô cùng tức giận – làm sao một quý tộc dòng dõi lại có thể lấy một đứa con gái quê mùa như vậy?! Nhưng chàng trai kiên quyết giữ nguyên ý địnhcủa mình đến nỗi sau đó, không ngay lập tức, nhưng cuối cùng cũng chiến thắng.


Người đàn bà xa lạ. Họa sĩ I.N. Kramskoi. 1883
Tại Sant-Peterburgh, chàng Bestugiev trẻ tuổi giới thiệu người yêu với cha mẹ. Không có những phản đối kịch liệt vì cô dâu cũng đã chinh phục được cả cha mẹ chú rể. Họ bắt đầu dạy cô các nghi lễ, dạy khiêu vũ, cô có một giọng nói thật dễ thương. Họ còn dạy cô học chữ nữa.
Sau đám cưới, hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ đôi khi bị một đám mây ảm đạm bay qua do những ngộ nhận về vẻ đẹp và sự quyến rũ bất thường của Matriona Savvisna. Họa sỹ Ivan Kramskoi cũng trở thành “tù nhân” của cô. Thỉnh thoảng ông ghé thăm gia đình họ. Và là một họa sỹ, Kramskoi không thể không quan tâm đến người đẹp.
Vào một ngày đông tiết trời u ám, khi gió lạnh buốt thổi từ vịnh vào, Kramskoi đến “sưởi ấm nhờ” nhà Bestugiev. Đón tiếp ông là chồng của Matriona Savvisna, giúp khách cởi áo khoác và mũ, sau đó dẫn vào phòng và mời ngồi để mời trà nóng. Ngay sau đó Matriona Savvisna lao nhanh vào phòng, rất phấn khích, hai má đỏ hồng. Trong khi người chồng giúp cô cởi áo lông, cô liên tục lặp đi lặp lại: “ôi anh không biết là em đã có một cuộc gặp mặt như thế nào đâu!”.
Tại đó, khi uống trà, cô kể cho chồng và khách nghe là đã gặp bà chủ cũ – bà điền chủ ở huyện Phategiơ. Bà kia, đến lượt mình nhận ra cô hầu cũ của mình, và rõ ràng là bà quyết định rằng Matriona Savvisna phải vô cùng biết ơn vì bà đã cho phép cô đi khỏi cùng với người cháu trai của mình. Nhưng cô hầu cũ đã đi ngang qua với vẻ độc lập và kiêu hãnh như thể “tôi” không biết bà là ai và cũng không muốn biết …
Câu chuyện đã tạo cho Kramskoi ấn tượng không thể quên được. Trong bức tranh ông định vẽ nhất thiết phải thể hiện được không chỉ vẻ quyến rũ, mà phải cho thấy được ở mức độ nào đó thế giới nội tâm của người phụ nữ trẻ xinh đẹp này. Họa sỹ đã làm được điều đó đến mức nào thì đến nay các nhà nghiên cứu nghệ thuật vẫn còn đang tranh cãi.
Nhưng cuộc sống gia đình của Matriona Savvisna cũng không được yên ả. Chồng cô bị những tay quá khích thách thức đấu súng. Đã có ba lần đấu súng như vậy, nhưng đều được giải quyết bằng hòa giải. Hơn nữa, họ không thể làm hỏng các mối quan hệ trong gia đình. Thêm vào đó, con trai họ bị ốm và qua đời. Tất cả những điều này đã khuyến khích họ hàng nhà chồng Matriona Savvisna đưa ra yêu cầu hủy bỏ hôn ước trước nhà thờ, và điều đó đã được thực thi.
Biết được điều này, Kramskoi cho rằng mình có nghĩa vụ tiễn Matriona Savvisna, cô đã quyết định về lại làng cũ với chị gái. Họ thỏa thuận là cô sẽ viết thư cho ông. Rất lâu sau mà không có tin tức gì.
Kramskoi đã viết thư về làng nhưng không nhận được hồi âm. Về Phategiơ, ông nhận được tin buồn: trên đường về Matriona Savvisna bị ốm và đã qua đời tại bệnh viện công Phategiơ. Theo những quy định thời đó, nghĩa trang thành phố chỉ để chôn thị dân, nên người ta chôn cất Matriona Savvisna tại nghĩa trang làng Milenino thuộc ngoại ô thành phố.
Trong thời gian ở Phategiơ và ngôi làng quê của Matriôna Savvisna, Kramskoi đã vẽ được nhiều phác thảo mà sau đó trở thành những bức tranh nổi tiếng như: “Người nông dân với dây cương”, “Người làm đồng” và “Lò rèn”.
Theo: www.old.kurskcity.ru



4 nhận xét:

  1. Bức tranh Người đàn bà xa lạ đẹp thật! Mình kính nể hoạ sĩ. Mình nhớ vào những năm 70 - 80 của thế kỷ trước ( nghe có vẻ xa xôi ghê) những ai đi học ở Liên Xô, kể cả những nhà có người quen "dây mơ rễ má" đi LX đều cố gắng kiếm cho được ảnh chụp bức tranh này để treo và cảm thấy là sang lắm.
    Trong cuộc sống thực tại, vẻ đẹp mà xa lạ thì thật là tẻ nhạt. Không biết cảm nhận của mình có giống các bạn không.
    TM

    Trả lờiXóa
  2. Cái hay của búc tranh này là ở chỗ đó chế ơi. Người đàn bà xa lạ nhưng khi ngắm bà ta (chắc fải ba bốn năm lần má trong nam, tức là cụ kỵ í, 1883 mà) ta lại không muốn quay đi. Trong vẻ kiêu kỳ, vẫn có thể nhận ra nét hồn hậu của các cô gái nga. Có lẽ đây là một fần nguyên nhân bức tranh nổi tiếng? Chắc không ai muốn thấy khuôn mặt Marilyn Monroe trong bức ảnh này.
    Tất nhiên ngoài đời thì hoàn toàn khác rồi (tranh mà lại)

    Trả lờiXóa
  3. Cái này kiu bằng "gáy".
    eccn vào trong mạng http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=85 thấy nhiều người nói khuôn mặt nàng không Nga lắm, hơi zẹc(*) hoặc gờruzi một chút, nhưng vô tư đi, nét "hồn hậu Nga" vẫn còn fảng fất là được rùi.
    :))

    (*) Azerbaijan

    Trả lờiXóa
  4. Các bạn hãy thử cảm nhận bức tranh ngôn từ dưới đây của thi sĩ được xếp vào hàng kinh điển của Nga là Aleksandr Blok (1880-1921), qua bản dịch của Đăng Bảy (đã được mỗ chỉnh lại đôi chỗ bị dịch sai).
    P/S: Blok có vợ là L.Mendeleyeva (con gái của nhà hoá học D.Mendeleyev)- đệ nhất giai nhân (khổ thế!)thành St.Petersburg.


    NGƯỜI ĐÀN BÀ XA LẠ
    A.Blok

    Khi chiều đến trên lầu cao khách sạn
    Khí trời nấu nung, ngưng đọng, hoang vu.
    Và linh hồn ngày xuân mục ruỗng
    Lên cơn say ồn ã reo hò.

    Xa xa, trên bụi mờ ngõ hẻm
    Trên cô liêu trang trại ven thành.
    Những chiếc bánh mì vòng ánh lên trên biển hiệu
    Và trẻ hờn kêu dậy xung quanh.

    Và mỗi chiều bên kia quãng cấm
    Mũ phớt lệch xiên trễ nải trên đầu
    Cùng các mợ dạo theo bờ kênh máng
    Đám đàn ông lọc lõi tinh ranh.

    Tiếng chèo lái xiết ran mặt nước
    Tiếng đàn bà như gió rít ngang tai
    Mà vô tình, như thảy đều quen thuộc
    Một chiếc đĩa in vành vạnh trên trời.

    Và mỗi chiều, người bạn thân độc nhất
    Lại thu hình trong chiếc cốc của tôi,
    Một hơi ẩm huyền bí và chua chát
    Cũng như tôi, nhũn nhặn, không lời.

    Quanh dãy bàn ăn bên cạnh đó
    Mấy anh bồi ngái ngủ, vật vờ
    Và đám ma men dương những đôi mắt thỏ
    Hô: “In vino veritas!”(1)om sòm.

    Và mỗi chiều vào đúng giờ hẹn trước
    (Hay đấy là điều tôi ước, tôi mơ?)
    Một thanh nữ lụa choàng là lượt
    Chập chờn bên khung cửa sương mờ.

    Giữa đám ma men, nàng đi chầm chậm
    Chẳng bao giờ nàng có bạn đi bên,
    Mùi nước hoa và hơi sương thoang thoảng
    Nàng ngồi bên khung cửa, một mình.

    Bao tín ngưỡng lưu truyền từ thiên cổ
    Phảng phất trong bóng lụa chờn vờn.
    Những lông vũ cài xiêu xiêu trên mũ(2)
    Những nhẫn vàng, những ngón tay thon.

    Thấy gần gụi lạ lùng, tôi đứng sững
    Qua mảnh voan mờ phủ dung nhan
    Tôi thấy hiện một đôi bờ say đắm
    Và một miền xa thẳm, mê hồn

    Bao bí quyết tìm nơi tôi ký thác
    Một vầng dương ai đã đặt vào tôi,
    Và tất cả trong hồn tôi sáng rực
    Khi rượu vang chát đã bừng soi.

    Những lông vũ xiên xiên trên mũ ấy
    Trong đầu tôi đang ngọ nguậy không thôi,
    Và đôi mắt xanh như không có đáy
    Phía bờ xa đang dõi ngời ngời.

    Đáy lòng tôi chứa một kho báu vật
    Chìa khoá chỉ riêng tôi được phép cầm!
    Người đúng đấy, hỡi người say kỳ quặc!
    Tôi hiểu: đây, chân lý ở rượu vang.

    24.4.1906
    Đăng Bảy dịch

    (1).In vino veritas: tiếng latin, nghĩa là chân lý ở (đáy cốc) rượu vang
    (2). Lông chim đà điểu, cài trên mũ của người có tang.

    Trả lờiXóa